Kho báu của Từ Hy
Sinh tiền, Từ Hy Thái hậu rất yêu thích các loại đồ vàng ngọc, trân châu, mã não, đá quý... Sau khi chết, đồ bồi táng trong quan tài của bà là cả một kho vàng bạc châu báu. Kho báu của Từ Hy trở thành mục tiêu săn lùng của những tên đào mộ cướp kho báu khét tiếng, trong đó có Tôn Điện Anh, một quân đoàn trưởng của Quốc dân đảng.
Đông Lăng là nghĩa trang hoàng gia của hai triều Minh, Thanh nằm trong thành phố Tuân Hóa tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Kể từ năm 1663, an táng hoàng đế Thuận Trị đến năm 1935 an táng hoàng quý phi cuối cùng của vua Đồng Trị, qua 272 năm, Đông Lăng là nơi an nghỉ thiên thu của 5 vị hoàng đế, 15 hoàng hậu, 136 phi tần... Từ Hy thái hậu cũng nằm tại đây bên cạnh những tiền bối lừng danh như hoàng đế Khang Hy, Càn Long, Hiếu Trang hoàng hậu...
Ngày 18-10-1908, sau 13 năm xây dựng với hao phí lên tới hàng triệu vạn lượng bạc, công trình lăng tẩm của Từ Hy thái hậu ở Đông Lăng đã hoàn tất. Điều độc đáo là đúng 4 ngày sau đó, Từ Hy qua đời, thọ 74 tuổi. Thái giám Lý Liên Anh-người được Từ Hy tin cẩn nhất-là một trong những người lo an táng Từ Hy.
Từ lăng tam tuyệt
Lăng mộ Từ Hy được xây dựng rất công phu, có tên là “Kim-Mộc-Thạch tam tuyệt”.
Theo “Thanh sử” ghi chép, chỉ riêng số vàng lá dùng đắp trong 3 đại điện của Từ lăng đã là 4.592 lượng vàng. Tổng cộng có 2.400 con rồng vàng và 64 chiếc cột chạm trổ hình rồng, dơi đều thếp vàng thật. Đó là kim tuyệt.
Những rường cột trong ba đại điện đều làm bằng loại mộc thượng phẩm: gỗ lê hoa vàng. Loại gỗ này nay đã gần như tuyệt tích, rất rắn chắc, vân gỗ dày mà đẹp, về giá cả, có thể nói là “tấc gỗ, tấc vàng”. Riêng quan tài của Từ Hy được chế từ thứ gỗ quý hơn nữa: Nam mộc tơ vàng. Đó là mộc tuyệt.
Tất cả đá dùng trong lăng mộ Từ Hy đều là loại Hán bạch ngọc thượng phẩm, được điêu khắc cực kỳ tinh xảo. Phù điêu trên Hán bạch ngọc trong điện Long Ân đều theo đồ hình “Long truy phụng”- phụng hoàng bay trước, rồng đuổi theo sau. 76 trụ trong điện đều chạm hình “Nhất phụng áp song long”-hai phụng đè một rồng, thể hiện quyền uy vô thượng của vị thái hậu này, phá vỡ quy tắc “rồng trên phụng dưới” bao đời. Cho nên mới gọi là thạch tuyệt.
Kho báu trong quan tài
Trong bộ sách Ái Nguyệt Hiên bút ký do Lý Liên Anh và người cháu cùng viết có ghi chép rõ ràng chủng loại, số lượng, vị trí và giá trị của các đồ tùy táng trong lăng mộ Từ Hy.
Theo đó, trong quan tài Từ Hy, phía dưới lót bằng gấm quý đan sợi tơ vàng dày 7 tấc, có đính 2.604 hạt trân châu, 85 viên đá quý, 203 miếng bạch ngọc. Phủ trên thi hài Từ Hy là tấm chăn thêu bộ kinh Đà La Ni bằng tơ vàng với 25.000 chữ, trên chăn đính 820 viên trân châu. Về sau bọn trộm mộ gỡ hết số trân châu còn tấm chăn vô giá kia thì vứt xuống bùn, đến năm 1979 khi chỉnh lý địa cung mới phát hiện ra.
Khi nhập liệm, Từ Hy đội mũ phụng quán, trên mũ có gắn một viên trân châu to bằng quả trứng gà, theo giá đương thời là hơn 10 triệu lượng bạc trắng. Trong miệng Từ Hy ngậm một viên minh châu, tương truyền có thể phát sáng trong đêm xa ngoài 100 bước; trên cổ đeo 3 xâu chuỗi, trong đó 2 chuỗi bằng trân châu, 1 chuỗi bằng hồng bảo thạch; mình mặc lễ phục dệt bằng sợi tơ vàng; tay cầm một nhánh hoa sen bằng ngọc. Ngoài ra, bên người còn đặt các đồ bồi táng như tượng Phật bằng vàng, ngọc; các đồ bằng san hô, đá quý các loại. Nghe nói sau khi bỏ đồ bồi táng xong, thấy quan tài vẫn còn chỗ hở, các quan phụng táng lại đổ thêm vào 4 hộp trân châu và 2.200 miếng hồng thạch, lam thạch, lục thạch. Riêng số châu báu “điền vào chỗ trống” này đã đáng giá 2, 23 triệu lượng bạc trắng.
|
Kẻ cướp mộ Từ Hy
|
